I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong di sản vô giá mà Người để lại cho Đảng, dân tộc ta. Học tập, làm theo phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là việc làm cấp thiết nhằm hoàn thiện nhân cách, đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện nói đi đôi với làm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
II. NỘI DUNG
1. Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam, “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất” và là tấm gương mẫu mực về phong cách ứng xử. Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh có nguồn cội từ lịch sử, tư tưởng và thực tiễn của dân tộc, mang dấu ấn thời đại và phẩm chất cá nhân của Người. Đó là sự hài hoà giữa văn hoá ứng xử phương Đông, phương Tây, trong đó hạt nhân chủ yếu là vì con người, vì sự trường tồn và phát triển của dân tộc và nhân loại tiến bộ.
Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh bao quát tất cả các quan hệ trong hoạt động sống của con người, nổi bật ở những phẩm chất chủ yếu:
Một là, phong cách ứng xử “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Đây là nét nổi bật trong phong cách ứng xử Hồ Chí Minh, thể hiện tính nhất quán về mục tiêu, nguyên tắc ứng xử, trong đó “ứng vạn biến” nhưng không xa rời, vứt bỏ cái bất biến. Đó chính là tinh thần biện chứng trong phong cách ứng xử Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã vận dụng nguyên tắc này như một phương châm xử thế để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn nhất. Người đã từng nhiều lần phải kìm nén uất ức trước thái độ ngang ngược, hống hách của kẻ thù; kiên trì, kiên quyết giữ vững lập trường cách mạng, nhưng rất mềm mỏng, linh hoạt, lùi một bước để thực hiện mục tiêu nhất quán là độc lập dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Hai là, phong cách ứng xử với con người. Hồ Chí Minh luôn thể hiện phong cách ứng xử tự nhiên, bình dị, cởi mở, chân tình, gần gũi. Trong tình yêu thương của Người đều có chỗ cho mọi người, không quên, không sót một ai, từ người già cho đến các cháu thiếu niên, nhi đồng ... Người luôn nhắc nhở “Đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có một thái độ mềm dẻo, khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta”. Do đó, bất cứ ai được gặp Người đều thấy ấm áp, thoải mái. Khi cần nhắc nhở, Người không quên chỉ vẽ tận tình. Khi cần phê bình, Người rất nghiêm khắc, không bao che, nhưng rất độ lượng, bao dung. Đối với những người lầm đường, lạc lối hay đã từng cộng tác với bên kia trận tuyến, Người yêu cầu “Không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không nguy hiểm lắm, thì nên dùng chính sách cảm hóa khoan dung”. Chính phong cách ứng xử chứa đựng những giá trị nhân văn, nhân bản này đã cuốn hút, cảm hóa, cảm phục và thôi thúc mọi người hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống cũng như trong công việc.
Ba là, phong cách ứng xử với công việc. Hồ Chí Minh luôn đặt việc chung trước việc tư, trung thành với lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc. Khi làm việc, Người luôn có chương trình, kế hoạch, mục đích rõ ràng; nói đi đôi với làm, nêu gương trước cấp dưới; “việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn”. Trong làm việc, phải tuân thủ nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tôn trọng và lắng nghe, tiếp thu những ý kiến hợp lý của cá nhân, nhờ đó quy tụ được sức mạnh, sự đoàn kết, thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ được phân công; khi xong một việc đều phải có tổng kết rút kinh nghiệm, để đề ra giải pháp thích hợp để tổ chức thực hiện việc khác tốt hơn.
Bốn là, phong cách ứng xử tự mình đối với mình. Đó chính là nghiêm khắc tự thấy, tự phê bình, tự nhìn lại chính mình, đánh giá đúng về mình để vươn lên làm chủ bản thân trong công tác, sinh hoạt hằng ngày. Theo Hồ Chí Minh, biết người không khó bằng biết mình; người ta khen mình thì dễ, tự mình thấy mình tốt, giỏi thì không khó, nhưng người khác chê mình thì nhiều lúc khó chấp nhận; tự mình thấy cái dở, cái xấu của mình lại càng khó hơn. Mặt khác, con người, nhất là cán bộ, đảng viên, thường mắc các chứng bệnh như chủ quan, tự cao tự đại, ưa người ta nịnh mình... Vì vậy, trong tất cả các mối quan hệ, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu mỗi người: “Đối với mình phải cần, kiệm, liêm, chính; hòa mà không tư; cả quyết sửa lỗi mình; cẩn thận mà không nhút nhát; hay hỏi; nhẫn nại; hay nghiên cứu, xem xét; vị công vong tư; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; giữ chủ nghĩa cho vững; hy sinh; ít lòng ham muốn về vật chất; bí mật”.... Có thể thấy, Hồ Chí Minh đặt yêu cầu rất cao về tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống đối với bản thân người cách mạng.
Tóm lại, với bản lĩnh chính trị vững vàng và trí tuệ uyên bác, phong cách ứng xử Hồ Chí Minh vừa tự nhiên, khiêm tốn, chân thành, bình dị, vừa linh hoạt, biến hóa đã tạo nên sức hấp dẫn, cảm hóa đối với con người, quy tụ được các bậc yêu nước lão thành, những trí thức lớn rời bỏ cuộc sống vinh hoa để phục vụ đất nước.
2. Sự cần thiết của việc rèn luyện và thực hiện văn hóa ứng xử của đảng viên chi bộ Văn phòng đối với nhân dân, đương sự theo phong cách ứng xử Hồ Chí Minh.
Thấm nhuần lời Bác dạy năm xưa đối với Tòa án nhân dân phải “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư”, thời gian qua, Đảng ủy và lãnh đạo TAND tỉnh Cà Mau luôn quan tâm, thường xuyên tổ chức quán triệt, triển khai những quy định sự chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp để mỗi cán bộ, đảng viên phải tuân thủ khi thực thi công vụ, đặc biệt là khi tiếp xúc, làm việc với nhân dân phù hợp với đặc điểm hoạt động của Tòa án gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tôn trọng nhân dân.
Nhận thức được tầm quan trọng của bộ phận Văn phòng, được xem như là “hình ảnh” của đơn vị, là nơi thường xuyên tiếp xúc nhân dân, với các cơ quan tổ chức. Chi bộ Văn phòng với phương châm, hướng về dân, gần dân, sâu sát dân và luôn trong tư thế phục vụ nhân dân đã được quán triệt triển khai thực hiện trong toàn Chi bộ, bước đầu mang lại nhiều kết quả tích cực: Đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động trong Chi bộ đã có ý thức thực hiện nghiêm túc chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh về “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; thực hiện tác phong phục vụ, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của dân; quan hệ giao tiếp, thái độ ứng xử với nhân dân đã có nhiều chuyển biến tích cực; mỗi cán bộ đảng viên, công chức và người lao động trong Chi bộ ở từng vị trí công tác của mình luôn cố gắng gương mẫu trong rèn luyện đạo đức, tác phong chuẩn mực khi tiếp xúc với nhân dân trong thực thi công vụ.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đáng ghi nhận đó, Chi bộ Văn phòng trong thực hiện nhiệm vụ vẫn còn những hạn chế như: Ý thức trách nhiệm, tinh thần, thái độ phục vụ của một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức còn biểu hiện “vô cảm”, “hách dịch”, thiếu lịch sự và thiếu sự tôn trọng; chưa thật sự lắng nghe người dân, đương sự; đôi khi giao tiếp chưa nhã nhặn với người dân trong thực thi công vụ.
Chi ủy Văn phòng và tập thể Lãnh đạo Văn phòng đôi lúc cũng chưa kịp thời trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, kiểm điểm tự phê bình và phê bình trong đơn vị và chưa kịp thời nhắc nhở, uốn nắn cán bộ, đảng viên có sai sót…
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại nêu trên, và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhất là phong cách ứng xử của Người, Cán bộ, đảng viên chi bộ Văn phòng phải luôn chấp hành các quy định của pháp luật, nội quy, quy tắc nơi công cộng. Tôn trọng, lễ phép, mềm dẻo, ân cần, yêu thương, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; biết nhân nhượng, “kính trên, nhường dưới”; trọng nhân cách, nhân phẩm, danh dự người khác; giúp đỡ người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ có thai. Trong giờ làm việc lẫn trong khi thực hiện công vụ phải đảm bảo trang phục ngành, đeo bảng tên đúng quy định và phải luôn nhớ vai trò, vị trí của mình là công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân. Thực hiện tốt lời răn dạy của Bác: "Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân...".
3. Các giải pháp thực hiện trong Chi bộ Văn phòng
Để thực hiện văn hóa ứng xử của đảng viên Chi bộ Văn phòng đối với nhân dân, đương sự theo phong cách ứng xử Hồ Chí Minh, Chi bộ Văn phòng xác định trong thời gian tới đảng viên, công chức và người lao động trực thuộc Chi bộ Văn phòng khi tiếp xúc với người dân, đương sự phải:
3.1. Tôn trọng và công bằng: Mỗi cá nhân, dù là đương sự hay người dân, đều phải được tôn trọng, đối xử bình đẳng, không phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do nào. Điều này giúp đảm bảo rằng tòa án hoạt động công minh và công bằng.
3.2. Lắng nghe, chia sẻ và thấu hiểu: Cán bộ, đảng viên cần lắng nghe và thấu hiểu những yêu cầu, bức xúc, băn khoăn, lo lắng của đương sự và người dân. Đây là bước quan trọng để tạo dựng một không gian trao đổi cởi mở, giúp họ cảm thấy được tôn trọng và được giải quyết công bằng.
3.3. Giải thích rõ ràng, dễ hiểu: Không phải ai cũng hiểu rõ về trình tự, thủ tục pháp lý, vì vậy việc giải thích những quy trình, quy định liên quan đến vụ việc của đương sự, người dân là cần thiết. Cán bộ, đảng viên làm công tác tiếp người dân, đương sự phải truyền tải thông tin một cách đơn giản và dễ hiểu nhất.
3.4. Chịu trách nhiệm và kiên nhẫn: Cán bộ tòa án phải tâm huyết, toàn tâm khi thực hiện nhiệm vụ, chịu trách nhiệm với công việc mình làm, giải quyết công việc một cách hiệu quả và đúng quy trình. Đồng thời, cần kiên nhẫn và linh hoạt trong những tình huống đương sự có thể cảm thấy bức xúc hoặc thiếu thông tin, cần phải hỏi thêm.
4. Những tình huống ứng xử cụ thể với người dân và đương sự
4.1. Khi người dân, đương sự đến liên hệ làm việc: Việc đầu tiên, người Người cán bộ, đảng viên chịu trách nhiệm tiếp phải mời người dân, đương sự ngồi (tại phòng tiếp dân, phải mời uống nước).
4.2. Khi tiếp nhận hồ sơ và yêu cầu từ người dân, đương sự: Người chịu trách nhiệm tiếp phải tiếp nhận đầy đủ và chính xác thông tin, kiểm tra hồ sơ và giải thích rõ ràng về các bước tiếp theo. Trong trường hợp cần thiết, chúng ta cũng có thể hướng dẫn đương sự hoàn thiện thêm hồ sơ để đảm bảo tính hợp pháp của vụ án.
4.3. Khi giải quyết thắc mắc của đương sự: Thái độ của Người chịu trách nhiệm tiếp phải nhẹ nhàng, chú ý lắng nghe hết ý của người dân, đương sự, không ngắt lời hoặc thể hiện thái độ cáu gắt. Cần tạo một không gian cởi mở trong trao đổi thông tin, để người dân có thể hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình.
4.4. Khi xử lý khiếu nại hoặc tố cáo: Người chịu trách nhiệm tiếp phải ôn hòa, thể hiện sự thông cảm đối với những bức xúc của đương sự; phải bình tỉnh, xử lý vấn đề một cách công minh, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của các bên trong vụ việc.
5. Kết luận
Phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng, dân tộc ta. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn đề cao ý thức, trách nhiệm, tự giác tu dưỡng, rèn luyện và thực hiện văn hóa ứng xử đối với nhân dân, đương sự theo phong cách ứng xử Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh tự khắc phục những hạn chế, yếu kém trong phong cách ứng xử hàng ngày, thực hành thường xuyên, lời nói phải đi đôi với việc làm.
Ứng xử đúng mực và chuyên nghiệp với người dân và đương sự không chỉ giúp duy trì sự tôn nghiêm của tòa án mà còn góp phần làm cho công lý được thực thi một cách công bằng và công minh. Để làm được điều này, mỗi cán, bộ đảng viên trong Chi bộ Văn phòng tòa án cần phải không ngừng trau dồi đạo đức nghề nghiệp, rèn luyện kỹ năng giao tiếp và nắm vững các quy định pháp lý. Chỉ khi chúng ta làm tốt công tác ứng xử với người dân, đương sự, Tòa án mới thật sự là một công cụ bảo vệ công lý và quyền lợi hợp pháp của công dân. Làm được điều đó, cũng chính là góp phần đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
Chi bộ Văn phòng
